48 Đường Số 1, Bình Trưng Đông, Quận 2, Hồ Chí Minh.
TobaCare.com@gmail.com
0822-41-0822
08-1441-1668
0822-41-0822
08-1441-1668

Những dấu hiệu và triệu chứng của viêm mủ màng phổi là gì?

Viêm mủ màng phổi

Viêm mủ màng phổi là căn bệnh gì? Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách trị liệu ra sao thì không phải ai cũng biết. Mời bạn cùng TobaCare tìm làm rõ hơn về chứng bệnh này thông qua nội dung bài viết ngay sau đây.

Viêm mủ màng phổi là gì?

Viêm mủ màng phổi là hiện tượng tập hợp mủ trong khoang màng phổi. Nó có thể là dịch mủ thật nhưng cũng có thể có khi chưa thành mủ hẳn mà mới chỉ là chất dịch đục hoặc màu nâu nhạt. Tuy nhiên chất dịch này khi nào cũng chứa xác bạch cầu đa nhân – thành phần cơ bản của mủ.

Bệnh thường xẩy ra như một biến tướng của những tình trạng bệnh nhiễm khuẩnnhững nơi không giống nhau trong thể chất như màng phổi, phổi, trung thất, thành ngực, ổ bụng hoặc do nhiễm khuẩn huyết (nhiễm trùng máu). Bệnh cũng có thể hình thành sau những tổn thương cơ học ở lồng ngực như thủ thuật mở lồng ngực, phẫu thuật phổi hoặc gặp chấn thương ngực.

viêm mủ màng phổi

Về mặt giải phẫu học, màng phổi là khu vực trong khoang ngực nằm giữa màng phổi nội tạng (màng bên phía ngoài phổi) và màng phổi thành (màng lót ở phần bên trong thành ngực). Thường thì, khu vực này chỉ chứa khoảng vài “muỗng cafe” dịch màng phổi. Màng phổi có sức khỏe rất tốt nên khi có vi khuẩn lọt vào, chưahẳn đã gây viêm mủ màng phổi. Bệnh còn tùy theo nhiều yếu tố như: số lượng vi khuẩn, độc tính của vi khuẩn cũng như trạng thái sức khoẻ chung, khả năng đề kháng và miễn dịch của thể chất. Khi mắc viêm mủ màng phổi, dịch màng phổi bị nhiễm trùng tựa như mủ sẽ nhiều lên. Nếu dịch hiện diện trong khoang màng phổi sẽ dẫn theo tràn dịch màng phổi.

Phân loại viêm mủ màng phổi

Dựa trên tổn thương thể chất, có thể chia viêm mủ màng phổi thành lan tỏa và khu trú. Dựa trên diễn tiến tình trạng bệnh lâm sàng, bệnh phân thành cấp tính và mạn tính. Dựa trên nguyên nhân bệnh sinh, bệnh phân loại thành nguyên phát và thứ phát. Viêm mủ màng phổi nguyên phát có nguồn gốc nhiễm trùng trực tiếp từ tình trạng bệnh nội khoa, viêm phổi. Viêm mủ màng phổi thứ phát bao hàm toàn bộ những nguồn gốc ngoại khoa.

Những dấu hiệu và triệu chứng của viêm mủ màng phổi là gì?

Những dấu hiệu và triệu chứng của nhóm bệnh có thể xuất hiện do sự hiện diện của nhiễm trùng cũng như những gánh nặng lên phổi và ngực do sự tăng thêm chất lỏng trong khoang màng phổi.

triệu chứng viêm mủ màng phổi

Những dấu hiệu và triệu chứng thông dụng của viêm mủ màng phổi bao hàm:

  • Sốt và ớn lạnh
  • Đổ mồ hôi buổi đêm, có thể gây phiền toái đến mức bạn phải thay áo nhiều lần
  • Đau ngực, thường nguy hiểm hơn khi hít vào
  • Nghẹt thở: Tùy thuộc vào lượng dịch và mức độ nguy kịch của căn nguyên bệnh mà trạng thái nghẹt thở sẽ đến nhanh hay chậm
  • Ho khan
  • Nấc cụt do tích tụ chất lỏng ở màng phổi có thể kích thích cơ hoành và dây thần kinh trung ương cơ ở vùng này, dẫn theo nấc
  • Sụt cân không chủ đích – giảm 5% trọng lượng thể chất trong số giờ 6 tháng hoặc ít hơn mà không cố ý giảm
  • Mệt rũ rời, cảm xúc không khỏe mạnh, thường xuyên thiếu tích điện.

Nguyên nhân

Nguyên nhân của viêm mủ màng phổi là gì?

một số trong những trạng thái tình trạng bệnh không giống nhau có thể dẫn theo một viêm mủ màng phổi, ví dụ như:

So với viêm mủ màng phổi tiên phát (hiếm gặp): Bệnh thường phát sinh sau vết thương thấu phổi từ gặp chấn thương vùng ngực do ngã hay tai nạn hoặc từ phẫu thuật lồng ngực như trong trị liệu ung thư phổi hoặc bệnh tim.

So với viêm mủ màng phổi thứ phát:

  • Do những bệnh ở phổi như viêm phổi, áp xe phổi, giãn phế quản, ung thư phổi bội nhiễm.
  • Những bệnh trung thất như rò khí phế phản, rò thực quản, áp xe hạch trung thất.
  • Những bệnh thành ngực như viêm xương sườn, áp xe vú,…
  • Những bệnh dưới cơ hoành và trong ổ bụng: áp xe dưới cơ hoành, áp xe gan, viêm phúc mạc,…
  • Bệnh toàn thân như nhiễm khuẩn huyết.
  • Những vi khuẩn gây viêm mủ màng phổi: tụ cầu vàng, liên cầu, phế cầu, những vi khuẩn Gram âm như Pseudomonas, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Aerobacter aerogenes, Proteus, Bacteroides, Salmonella,… Ngoài ra, vi khuẩn lao cũng có thể gây viêm mủ màng phổi.

Những ai có nguy cơ tiềm ẩn mắc viêm mủ màng phổi?

viem mu mang phoi la gi

Những đối tượng người tiêu dùng với những trạng thái tình hình sức khỏe sau trên đây có nhiều nguy cơ tiềm ẩn mắc viêm mủ màng phổi:

  • Bệnh tiểu đường
  • Tiền sử nghiện rượu
  • Những bệnh tự miễn dịch như viêm khớp dạng thấp
  • Khối hệ thống miễn dịch bị ức chế (trong hóa trị liệu)
  • Những bệnh về phổi như bệnh tắc nghẽn phổi mạn tính COPD và viêm phế quản mạn tính
  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản

Chẩn đoán và trị liệu

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của những nhân viên y tế. Hãy luôn luôn tham khảo thêm ý kiến Bác Sỹ.

Những kỹ thuật y tế nào giúp chẩn đoán viêm mủ màng phổi?

Để chẩn đoán bệnh này, trước tiên, những Bác Sỹ cần nắm tiền sử bệnh và kiểm tra lâm sàng. Tiền sử bệnh có thể giúp xác định những yếu tố rủi ro còn khám lâm sàng giúp củng cố kết quả khi người bệnh bị sốt, khó thở, đau ngực khu trú, hội chứng ba giảm (dấu hiệu đau ở một bên ngực, khó thở, ho khan hoặc có đờm).

Ngoài ra còn tồn tại những kỹ thuật như:

  • Chẩn đoán hình ảnh. Người bệnh có thể được chụp X-quang hoặc chụp CT ngực hay siêu âm có thể giúp gợi ý chẩn đoán viêm mủ màng phổi.
  • Chọc dò dịch màng phổi. Tuy vậy tiến hành những chẩn đoán hình ảnh đã có thể xác định được bệnh, chọc dò dịch màng phổi cũng có thể được không sử dụng. Kết quả là dương tính khi mẫu bệnh phẩm có mủ đặc hoặc vàng đục (thành phần cơ bản là tế bào đa nhân), soi tươi có vi trùng hoặc cấy mủ thành công.

Những phương pháp trị liệu viêm mủ màng phổi

điều trị viêm mủ màng phổi

Nguyên tắc trị liệu bệnh này yên cầu cả 2 việc: làm sạch mủ trong khoang màng phổi và trị liệu nhiễm trùng, triệu chứng cơ phiên bản. Phải trị liệu sớm, tích cực và toàn vẹn theo mức độ bệnh.

Làm sạch mủ

Có nhiều phương pháp để làm sạch mủ như chọc hút màng phổi, mở màng phổi dẫn lưu kín hoặc phẫu thuật bóc tách tách màng phổi. Kỹ thuật chọc hút màng phổi vận dụng với toàn bộ những trường hợp chẩn đoán nguyên nhân và cần hỗ trợ trị liệu. Phẫu thuật bóc tách tách màng phổi và ổ mủ chỉ được tiến hành khi trị liệu bằng kháng sinh và dẫn lưu sau 7 ngày không tồn tại kết quả khiến cho trạng thái toàn thân xấu đi, suy thở, có hiện tượng rò khí – phế mạc (không sử dụng mổ cấp cứu), cần giảm thời hạn trị liệu và hạn chế tối đa biến tướng của nhóm bệnh.

Trị liệu nhiễm trùng

Những Bác Sỹ thường sẽ chính thức không sử dụng sử dụng kháng sinh ngay khi mẫu bệnh phẩm của người bệnh cho thấy có khả năng bị nhiễm trùng. Việc chọn loại kháng sinh sẽ tùy theo kết quả xét nghiệm tìm ra chủng vi khuẩn tạo nên bệnh, do đó sẽ không còn được tiến hành ngay lập tức. Sau khi chính thức sử dụng kháng sinh, những xét nghiệm đo độ nhạy sẽ được tiến hành nên người bệnh có thể cần thay đổi loại thuốc chữa bệnh sau đó cho thích nghi nhất.

Trị liệu triệu chứng

Ngoài ra, người bệnh có thể tiến hành liệu pháp oxy, liệu pháp bù dịch, thăng bằng kiềm toan, kiểm soát lượng albumin máu. Ngoài ra, cần đảm bảo chính sách đủ chất, tích điện, nâng cao thể trạng bằng truyền đạm, truyền máu, những loại sinh tố, tập thở để phục hồi khả năng đàn hồi của nhu mô phổi, tránh xẹp phổi.

Tiên lượng sống của nhóm bệnh viêm mủ màng phổi

Tiên lượng của viêm mủ màng phổi phụ thuộc phần lớn vào nguyên nhân, con đường hình thành bệnh. Do mức độ nguy kịch của nhóm bệnh sinh, tỷ trọng tử vong của nhóm bệnh có thể lên tới 30%. Số ca mắc bệnh đang tăng thêm vì sự thông dụng của những loại vi khuẩn phát sinh trạng thái này.

Nếu được trị liệu đúng và tích cực ngay từ mức độ cấp tính thì người bệnh có thể khỏi sau 2-4 tuần. Nếu trị liệu không tốt hoặc không được trị liệu kịp tời thì mủ màng phổi sẽ trở thành mạn tính và dẫn tới những biến tướng nặng.

Viêm mủ màng phổi có thể phát sinh những biến tướng gì?

Bệnh có thể gây những biến tướng tại chỗ như vỡ gây rò mủ qua thành ngực, rò màng phổi – phế quản. Có trường hợp rò màng phổi – thực quản hoặc vỡ ổ mủ màng phổi qua cơ hoành vào ổ bụng. Ngoài ra, những biến tướng toàn thân có thể có là suy kiệt do nhiễm trùng nặng kéo dãn dài, áp-xe những cơ quan khác (não, thận…), suy tim.

Đánh Giá post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *